BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 37/2020/AL VỀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN TRONG TRƯỜNG HỢP ĐÓNG PHÍ TRỄ HẠN
BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 37/2020/AL VỀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN
TRONG TRƯỜNG HỢP ĐÓNG PHÍ TRỄ HẠN
Bạch
Thị Nhã Nam
Giảng
viên Khoa Luật, Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh
Email:
nambtn@uel.edu.vn
Tạp chí Tòa án nhân dân, Tòa án Nhân dân Tối cao, 2021, Số 18, tr. 7 - 13
Tóm tắt: Trong các tranh chấp hợp đồng bảo hiểm, có một
dạng tranh chấp khá phổ biến liên quan đến nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là việc
DNBH từ chối bồi thường hay từ chối chi trả số tiền bảo hiểm vì khách hàng đóng
phí bảo hiểm trễ hạn. Án lệ số 37/2020/AL được công bố theo Quyết
định 50/QĐ-CA ngày
25/02/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã tạo ra những ý nghĩa pháp lý
nhất định trong việc khẳng định tính hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản được
duy trì khi doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận số phí bảo hiểm, phát hành hóa đơn và
báo cáo thuế về khoản phí bảo hiểm, do đó doanh nghiệp bảo hiểm không được từ
chối bồi thường đối với bên mua bảo hiểm.
Từ khóa: phí
bảo hiểm, án lệ, số
37/2020/AL…
1. Về án lệ số 37/2020/AL
Quyết định giám đốc
thẩm số 28/2018/KDTM-GĐT ngày 26-6-2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp HĐBH” tại tỉnh Đồng
Nai giữa nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn N với bị đơn là Tổng công ty
cổ phần bảo hiểm P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Công ty bảo hiểm
P1, Ngân hàng thương mại cổ phần V, Công ty cổ phần giấy S.[1]
- Tình huống án lệ
Sau khi kết thúc thời
hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBH tài sản, bên mua bảo hiểm mới
đóng phí bảo hiểm cho DNBH. DNBH không có ý kiến gì, không có văn bản thông báo
cho bên mua bảo hiểm về việc chấm dứt hợp đồng mà vẫn nhận phí bảo hiểm, xuất
hóa đơn giá trị gia tăng và báo cáo thuế về khoản tiền đóng phí bảo hiểm. Sau
đó, sự kiện bảo hiểm xảy ra.
- Giải pháp pháp lý
Trường hợp này, HĐBH có
hiệu lực thi hành, DNBH phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người
được bảo hiểm.
- Các Điều 285,
287 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương
ứng với các điều 278, 354 Bộ luật Dân sự năm 2015);
- Các Điều 15, 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).
Đoạn 4, 5 phần “Nhận
định của Tòa án”.
[4]
Tuy nhiên, Bảo hiểm P1 cho rằng Công ty N chậm nộp tiền phí bảo hiểm, nên Hợp
đồng số 06 và Hợp đồng số 10 không có hiệu lực vì: Ngày cuối cùng phải đóng
tiền phí bảo hiểm là ngày 01-5-2015, nhưng đến ngày 07-5-2015, Công ty N mới
chuyển tiền đóng phí bảo hiểm cho Bảo hiểm P1. Sau Khi nhận được tiền phí bảo
hiểm của Công ty N, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm P và Bảo hiểm P1 không có ý
kiến gì và cũng không có văn bản thông báo về việc đóng tiền phí bảo hiểm chậm
thì hai Hợp đồng trên đã không còn hiệu lực từ ngày 01-5-2015, mà Bảo hiểm P1
vẫn nhận, xuất hóa đơn giá trị gia tăng và báo cáo thuế về hai khoản tiền đóng
bảo hiểm này của Công ty N, nên mặc nhiên Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm P và
Bảo hiểm P1 thừa nhận việc đóng tiền phí bảo hiểm chậm của Công ty N và thừa nhận
hai HĐBH trên có hiệu lực thi hành.
[5]
Do đó, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm P phải có
trách nhiệm bồi thường theo Hợp đồng giữa hai bên đã ký kết.
2.
Bình luận án lệ số
37/2020/AL
Bảo
hiểm hiện nay đóng một vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa rủi ro và chia
sẻ tổn thất của người được bảo hiểm.Việc gia tăng giao kết hợp đồng bảo hiểm
của người mua bảo hiểm trong thời gian qua trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã
phản ánh sự thay đổi nhận thức về vai trò bảo hiểm trong đời sống cá nhân và
hoạt động sản xuất của các tổ chức trong nền kinh tế. Tuy nhiên, khi tham gia
mua bảo hiểm với vai trò là một bên trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm (HĐBH), nhận thức của người
mua bảo hiểm về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn vẫn còn hạn chế.
Điều này là nguyên nhân dẫn đến hàng loạt các tranh chấp, đặc biệt là các tranh chấp hợp đồng bảo hiểm liên
quan đến việc từ chối bồi thường, từ chối chi trả số tiền bảo hiểm khi sự kiện
bảo hiểm xảy ra do người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm trễ hạn.
Phí
bảo hiểm là một khoản tiền mà bên mua bảo hiểm nộp cho doanh nghiệp bảo hiểm
(DNBH) theo thời hạn và phương thức thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.[2]
Đây là số tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả cho công ty bảo hiểm để hoán
chuyển rủi ro sang cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH). DNBH thu phí bảo hiểm để
đảm bảo chi trả cho các khoản tổn thất được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy
ra và các loại chi phí khác trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm như: chi phí
khai thác bảo hiểm như quảng cáo, chi cho đại lý, chi phí quản lý hợp đồng: chi
phí quản lý hợp đồng bảo hiểm, chi phí quản lý cho các khoản chi trả bồi
thường…Nguyên tắc xác định khoản phí bảo hiểm sẽ đảm bảo sự cân bằng giữa trách
nhiệm và quyền lợi của DNBH và người mua bảo hiểm tính tại thời điểm ký kết hợp
đồng giữa hai bên, dựa trên các phương pháp định lượng về tần số và mức độ tổn
thất đối với loại rủi ro được bảo hiểm. Phí bảo hiểm có thể nộp một lần ngay
sau khi ký hợp đồng giữa hai bên hoặc có thể nộp nhiều lần theo phương thức
định kỳ trong năm, tùy thuộc vào loại hình bảo hiểm, thời gian của hợp đồng bảo
hiểm giao kết.
Đóng
phí bảo hiểm đúng hạn và đầy đủ là nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm, là điều kiện
để phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH,[3]
và đảm bảo
duy trì tính hiệu lực của HĐBH. Chiểu theo quy định của Luật Kinh doanh bảo
hiểm (KDBH) hiện hành, HĐBH sẽ chấm dứt hiệu lực nếu bên mua bảo hiểm không
đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận,
hoặc trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBH.[4]
Như vậy, khi khi hết thời hạn thanh toán phí bảo hiểm theo thỏa thuận, HĐBH sẽ
chấm dứt hiệu lực. Luật KDBH không yêu cầu DNBH phải thực hiện nghĩa vụ thông
báo khi chấm dứt hiệu lực HĐBH trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ đóng phí cho
phía bên mua bảo hiểm biết. Nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra sau khi HĐBH đã chấm
dứt hiệu lực, bên mua bảo hiểm sẽ không được chi trả tiền bồi thường hay số
tiền bảo hiểm.
Do đó, rủi ro mà bên mua bảo hiểm đóng phí
trễ hạn có thể phải đối mặt đó là: DNBH
sẽ không chi trả hay bồi thường tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra;
trường hợp không có sự kiện bảo hiểm xảy ra bên mua bảo hiểm bị mất đi một
khoản phí bảo hiểm sau thời điểm HĐBH chấm dứt vì bản chất khoản phí này không
bảo đảm cho nghĩa vụ bồi thường hay trả tiền bảo hiểm từ DNBH. Nếu DNBH viện
lý do HĐBH chấm dứt trước khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra; để đòi quyền lợi hợp
pháp của mình thì các bên sẽ xảy ra tranh chấp và cần có sự can thiệp của Tòa án.
Về
phía bên mua bảo hiểm, nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo
hiểm thường xuất phát từ nhận thức pháp luật kém về việc đóng trễ phí trễ hạn,
miễn sao có đóng phí đủ thì bên mua bảo hiểm cho rằng DNBH sẽ vẫn bồi thường
khi có SKBH xảy ra. Tâm lý chủ quan này của người mua bảo hiểm dẫn đến việc tùy
tiện đóng phí trễ hạn so với thời hạn quy định trong HĐBH. Thậm chí bên mua bảo
hiểm tùy tiện giao kết HĐBH và sau đó không tiến hành đóng phí bảo hiểm cho
DNBH, và nhận thức rằng việc giao kết HĐBH sẽ không tạo ra nghĩa vụ pháp lý ràng
buộc gì. Hay trường hợp khác như bên mua bảo hiểm không tiếp tục đóng số phí
bảo hiểm của các kỳ đóng phí tiếp theo quy định trong HĐBH và nhận thức rằng HĐBH
sẽ chấm dứt hiệu lực, và họ không buộc phải đóng đủ số tiền nợ phí bảo hiểm
trên.[5]
Trên thực tiễn, có các dạng tranh chấp khá phổ
biến liên quan đến nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm. Dạng tranh chấp thứ nhất là các
vụ tranh chấp liên quan đến việc DNBH từ chối bồi thường hay từ chối chi trả số
tiền bảo hiểm vì khách hàng đóng phí bảo hiểm trễ hạn như: vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm trong bản án phúc thẩm số
538/2009/DS-PT ngày 31/3/2009 của Tòa án nhân dân (TAND) Thành phố Hồ Chí Minh,[6] vụ án tranh chấp về bảo hiểm trong bản án phúc thẩm
số 22/2017/KDTM-PT ngày 18/08/2017 của TAND tỉnh Đồng Nai,[7] vụ kiện giữa Công ty Hoàng
Phát đòi bồi thường bảo hiểm hỏa hoạn với Công ty Bảo hiểm Petrolimex Bình Định,[8] vụ kiện giữa Công ty Công nghiệp tàu
thủy Dung Quất và Bảo Minh,[9]…
Dạng tranh chấp thứ hai liên quan đến nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là DNBH khởi
kiện yêu cầu bên mua bảo hiểm hoàn thành nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm sau khi đã
ký kết HĐBH tài sản hay HĐBH trách nhiệm dân sự ví dụ như : vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm trong bản án sơ thẩm
số 1123/2018/KDTM-ST của TAND Quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh,[10]
vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm trong quyết định giám đốc thẩm 14/2008/KDTM-GĐT ngày
28/11/2008 về vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản[11]. Đáng lưu ý, Luật
KDBH quy định DNBH không được khởi kiện đòi đóng phí bảo hiểm trong HĐBH con
người như các HĐBH nhân thọ, hay HĐBH liên quan đến sức khỏe con người, tai nạn
con người...[12] Ngoài ra, cũng có dạng tranh chấp khác
với số lượng hạn hữu như là bên mua bảo hiểm kiện đại lý bảo hiểm đòi lại số
tiền phí bảo hiểm đã đóng trực tiếp cho đại lý bảo hiểm.[13]
Về
phía DNBH, có một thực tiễn phổ biến là DNBH không chủ động hoàn trả lại khoản
phí bảo hiểm nộp trễ hạn cho bên mua bảo hiểm và thông báo HĐBH đã chấm dứt
hiệu lực, điều này sẽ khiến bên mua bảo hiểm tự suy luận rằng HĐBH vẫn còn hiệu
lực. Hoặc DNBH chỉ thông báo cho bên mua bảo hiểm về việc chấm dứt HĐBH và hoàn
lại khoản phí bảo hiểm đóng trễ khi đã có SKBH xảy ra và nhận được yêu cầu bồi
thường của bên mua bảo hiểm. Việc phớt lờ này của DNBH tạo ưu thế cho DNBH
trong việc lựa chọn tiếp tục thực hiện HĐBH và giữ phí bảo hiểm thu được nếu
như không xảy ra sự kiện bảo hiểm, còn trong trường hợp SKBH xảy ra sau thời
điểm nhân được khoản phí đóng trễ hạn, DNBH thông thường lựa chọn việc chấm dứt
HĐBH do đóng phí trễ hạn để không phải chi trả bồi thường. Như vậy, chỉ đến khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm, và không nhận được bồi thường hay chi trả tiền bảo
hiểm, bên mua bảo hiểm mới được DNBH chính thức phản hồi rằng HĐBH đã chấm dứt
do không đóng phí đúng hạn.
Trong
tình huống tranh chấp, đối với khoản phí bảo hiểm đóng trễ hạn, có những trường
hợp DNBH đã phát hành hóa đơn thu phí, ghi nhận phí bảo hiểm thu được vào doanh
thu trong sổ sách kế toán hay thực hiện báo cáo thuế đối với khoản phí trên,
hoặc trường hợp DNBH phát hành hóa đơn thu phí khi chưa thực sự thu được khoản
phí bảo hiểm khiến bên mua bảo hiểm hiểu rằng đó là thỏa thuận khác về việc gia
hạn HĐBH …Chính những hành vi này đã dẫn đến tranh chấp giữa DNBH và người mua
bảo hiểm liên quan đến việc đòi DNBH phải bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm
sau khi đã nhận phí bảo hiểm trễ hạn.
Luật
KDBH quy định về thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm khi phí bảo hiểm đã
được đóng đủ,[14] tuy
nhiên việc đóng phí bảo hiểm trễ hạn thì dẫn đến hậu quả pháp lý là chấm dứt
hiệu lực HĐBH. Pháp luật KDBH không quy định cũng như không có hướng dẫn về
trường hợp DNBH chấp nhận tiền phí bảo hiểm trễ hạn bằng việc xuất hóa đơn thu
phí cho khách hàng, ghi nhận doanh thu thì hệ quả pháp lý có tương tự như đóng
phí trễ hạn hay không. Việc chấp nhận tiền phí bảo hiểm của DNBH có là căn cứ
đương nhiên để hợp đồng không chấm dứt hiệu lực hay không? Trong trường hợp phí
bảo hiểm được đóng theo phương thức nhiều lần, nhiều kỳ trong năm, việc đóng đủ
phí được xác định như thế nào? Luật KDBH Việt Nam không quy định về trách nhiệm
của DNBH về việc thông báo thời gian, thời hạn nộp phí bảo hiểm. Tức là, theo Luật
KDBH Việt Nam người mua bảo hiểm phải tự giác đóng bảo hiểm theo hợp đồng, nếu
hết thời gian đóng phí bảo hiểm mà không đóng, và cũng không chủ động thỏa
thuận gia hạn nợ phí, thì HĐBH sẽ chấm dứt hiệu lực sau thời hạn đóng phí.
Do
đó, án lệ số 37/2020/AL ra đời đã góp phần làm rõ các quy định của Luật KDBH, tạo
ra tính nhất quán trong các quán quyết tương lai với tình tiết sự kiện tương tự
liên quan đến việc đóng phí bảo hiểm trễ hạn. Án lệ số 37/2020/AL sẽ là một
nguồn luật mang tính cụ thể hơn, rõ ràng hơn cho từng vụ việc, giúp cơ quan tài
phán linh động hơn trong việc áp dụng pháp luật trước những tình huống chưa
được dự báo hoặc quy định chung, chưa rõ ràng trong văn bản pháp luật.
Án
lệ 37/2020/AL đã mở ra một hướng giải quyết mới liên quan đến vấn đề hiệu lực
của HĐBH trong trường hợp bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm sau khi đã kết
thúc thời hạn đóng phí bảo hiểm.
Theo
Luật KDBH hiện hành, khi bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí theo thời gian thỏa
thuận trong hợp đồng mà không có thỏa thuận khác, thì HĐBH sẽ tự động chấm dứt
mà không cần sự thông báo từ phía DNBH. Trong tình huống của án lệ 37/2020/AL,
hết thời hạn đóng phí bảo hiểm nhưng không hề có thông báo HĐBH chấm dứt, nên
ngày 07/5/2015 công ty N vẫn nộp phí bảo hiểm, Tổng công ty bảo hiểm P và bảo
hiểm P1 vẫn nhận tiền bảo hiểm, và xuất hóa đơn giá trị gia tăng và báo cáo
thuế về khoản tiền phí bảo hiểm đó. Đến khi có sự kiện bảo hiểm thì phát sinh
ra tranh chấp giữa hai bên. Công ty bảo hiểm đã từ chối bồi thường vì cho rằng
công ty N phải thanh toán phí bảo hiểm trước ngày 01/5/2015 nhưng đến ngày
07/5/2015 công ty bảo hiểm P1 mới nhận được phí, khi đó HĐBH đã chấm dứt hiệu
lực vào ngày 01/5/2015. Có thể thấy dù công ty N nộp phí bảo hiểm muộn nhưng
hành vi xuất hóa đơn và báo cáo thuế của công ty bảo hiểm đã thể hiện sự đồng ý
với việc nộp phí bảo hiểm chậm của công ty N, đồng thời thừa nhận tính hiệu lực
hợp đồng vẫn còn tồn tại. Do đó, căn cứ vào các hành vi của công ty bảo hiểm đối
với khoản phí bảo hiểm thu được từ công ty N, công ty bảo hiểm không có ý định
chấm dứt HĐBH và vẫn muốn tiếp tục duy trì HĐBH với công ty N, do đó Tòa án đã
buộc công ty bảo hiểm phải thực hiện chi trả bồi thường với sự kiện bảo hiểm
xảy ra.
Việc
ban hành án lệ giúp bảo vệ quyền lợi cho bên mua bảo hiểm, là bên yếu thế trong
quan hệ HĐBH, đồng thời hạn chế việc lạm dụng vị thế của DNBH trong việc vẫn nhận
phí bảo hiểm, và sau đó tùy ý lựa chọn việc chấm dứt HĐBH, viện dẫn quy định
pháp luật để từ chối chi trả tiền bảo hiểm.
Một
yếu tố thú vị khác là việc Tòa án xem xét các hành vi xuất hóa đơn thu phí,
thực hiện báo cáo thuế đối với khoản phí bảo hiểm thu được thể hiện ý chí tiếp
tục thực hiện HĐBH, Tòa án không xem xét đây có phải là các bằng chứng thỏa thuận
khác về việc sửa đổi, bổ sung HĐBH, tiếp tục thực hiện HĐBH chiểu theo Điều 25
của Luật KDBH, vì khoản 2, Điều 25 yêu cầu mọi sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo
hiểm phải được lập thành văn bản, và rõ ràng hóa đơn thu phí không phải là thỏa
thuận khác bằng văn bản của các bên để sửa đổi thời hạn thu phí hay là văn bản
thể hiện nội dung tiếp tục thực hiện HĐBH giữa hai bên.[15]
Ngoài
ra, bước tiến lớn của án lệ này là xem xét ý chí thực hiện HĐBH không phải duy
nhất qua các bằng chứng văn bản thỏa thuận giữa các bên mà còn xem xét hành vi
thực hiện HĐBH của các bên. Án lệ giúp làm rõ các yếu tố xác định ý chí muốn
thực hiện tiếp tục HĐBH của DNBH như việc DNBH đã xuất hóa đơn thu phí bảo hiểm
và báo cáo thuế đối với khoản phí bảo hiểm thu trễ hạn, và DNBH bị ràng buộc
bởi ý chí muốn thực hiện tiếp tục HĐBH để không được chối bỏ trách nhiệm bảo
hiểm khi SKBH xảy ra.
So sánh với học thuyết về điều trói buộc (học thuyết Estoppel) trong thông luật để làm rõ hơn mối quan hệ ràng buộc giữa hành vi của DNBH tiếp tục thực hiện HĐBH, và việc từ chối bồi thường về sau khi có SKBH xảy ra. Xuất phát từ những học thuyết về sự công bằng (equitable doctrines), học thuyết điều trói buộc đã ra đời, cho phép Tòa án có toàn quyền quyết định trong việc thực thi pháp luật để đảm bảo sự bình đẳng cho các bên trong quan hệ hợp đồng. Estoppel trong tiếng Pháp là “estouppail”, “estopper” và tiếng La tinh là “stupa”, có thể tạm định nghĩa điều trói buộc như là một vật, một việc có tác dụng ngăn cản người cam kết rút lại lời nói của mình và gây thiệt hại cho người khác. Tất cả các hệ thống pháp luật đều nói rằng “người cam kết không thể huỷ bỏ lời cam kết của mình một cách tuỳ thích”.[16] Estoppel trong hệ thống pháp luật Anh (English law) là một học thuyết được sử dụng để ngăn cản một người dựa trên một số quyền hạn nhất định hoặc dựa trên một loạt các sự kiện (như lời nói hoặc hành động) nhằm đi ngược với những sự kiện đã thực hiện trước đó.[17] Có thể thấy hành vi nhận tiền phí bảo hiểm trễ hạn, xuất hóa đơn, kê khai thuế của DNBH trong án lệ nói trên đã khiến bên mua bảo hiểm có niềm tin hợp lý về việc tiếp tục thực hiện HĐBH của cả hai bên, và việc tin tưởng này đã gây ra bất lợi cho bên mua bảo hiểm là họ bị từ chối bồi thường khi có SKBH xảy ra, do đó DNBH không thể từ bỏ trách nhiệm bảo hiểm khi có SKBH xảy ra sau này vì DNBH vẫn thực hiện quyền thu phí bảo hiểm, và khi có SKBH xảy ra và yêu cầu bồi thường từ phía bên mua bảo hiểm.
3. Bài học kinh nghiệm và các đề xuất, kiến nghị
Theo quy định của pháp luật KDBH thì luật không quy định nghĩa vụ thông báo khi đơn phương chấm dứt HĐBH của DNBH do bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí. Ngoài việc văn bản Luật KDBH quy định về việc chấm dứt HĐBH sau khi hết hạn đóng phí, thì việc quy định tương tự còn được tìm thấy trong một số văn bản dưới luật khác trong lĩnh vực bảo hiểm,[18] hay được DNBH quy định trong các HĐBH, quy tắc sản phẩm bảo hiểm.
Có thể nhận thấy rằng, việc không quy
định nghĩa vụ thông báo của DNBH khi chấm dứt HĐBH đã tạo ra một khoảng trống
cho DNBH lợi dụng thế mạnh trong quan hệ HĐBH và chủ động lựa chọn phương án có
lợi nhất cho DNBH tùy thuộc vào việc SKBH có xảy ra hay không.
Khi
so sánh với quy định chung của Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 đối với nghĩa vụ thông báo khi đơn phương
chấm dứt hợp đồng cho bên còn lại thì càng chứng minh sự cần thiết phải quy
định nghĩa vụ thông báo của DNBH khi chấm dứt HĐBH cho người mua bảo hiểm. Căn
cứ vào các trường hợp một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo khoản
1, Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015,[19]
thì khoản 2 điều này quy định rằng bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ phải thông báo cho
bên còn lại, nếu không thông báo và sau đó xảy ra thiệt hại thì bên có quyền
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó, chứ việc không thông báo sẽ không ảnh
hưởng đến giá trị pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng. Thời điểm nhận thông báo
của bên còn lại có ý nghĩa quan trọng bởi đó là cơ sở xác định thời điểm chấm
dứt hợp đồng (Khoản 3 Điều 428 BLDS 2015),
thời điểm quan hệ hợp đồng ràng buộc các bên dường như chấm dứt, quyền và nghĩa
vụ của họ không còn trừ trường hợp thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và
thỏa thuận về giải quyết tranh chấp, phần nghĩa vụ đã thực hiện vẫn có giá trị
với các bên. Mặc dù Luật KDBH cũng quy định điều kiện chấm dứt HĐBH không khác
so với quy định chung của BLDS 2015 nhưng chính việc không quy định nghĩa vụ
thông báo đã tạo ra sự chưa thống nhất giữa BLDS và Luật KDBH, đồng thời tạo ra
rủi ro nhất định cho bên mua bảo hiểm trong tình huống đóng phí bảo hiểm sau
thời điểm hết hạn đóng phí.
Tham
khảo thêm quy định các nguyên tắc luật HĐBH Châu Âu (Principles of European
Insurance Contract Law - PEICL), cụ thể tại khoản 1 Điều 5:102 PEICL quy định:[20]
“Một điều khoản quy định miễn trừ
trách nhiệm bảo hiểm của DNBH đối với rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp bên
mua bảo hiểm không thanh toán khoản phí bảo hiểm tiếp theo sẽ không phát sinh
hiệu lực trừ khi:
(a) Bên mua bảo hiểm nhận được hóa
đơn ghi chính xác số phí bảo hiểm đến hạn cũng như ngày thanh toán;
(b) Sau khi đến hạn thanh toán, công
ty bảo hiểm gửi thông báo nhắc bên mua bảo hiểm chính xác về số phí bảo hiểm đến
hạn, gia hạn thêm một khoảng thời gian thanh toán ít nhất hai tuần và cảnh báo
cho bên mua bảo hiểm về việc đình chỉ hợp đồng bảo hiểm sắp xảy ra nếu bên mua
bảo hiểm không thanh toán phí bảo hiểm;
(c) Thời gian gia hạn trong yêu cầu
(b) đã hết mà không được thanh toán.”
Quy
định của PEICL đã yêu cầu DNBH có nghĩa vụ phải gửi thông báo nhắc việc nộp phí
bảo hiểm trong trường hợp phí bảo hiểm được đóng theo nhiều kỳ, và việc gia hạn
thời gian nộp phí tối thiểu hai tuần cho phía người mua bảo hiểm, tránh trường
hợp bên mua bảo hiểm không xác định rõ số tiền phí bảo hiểm đến hạn và thời hạn
nộp phí bảo hiểm, cũng như khả năng chấm dứt trách nhiệm bảo hiểm của DNBH. Bên mua bảo hiểm là bên yếu thế
trong quan hệ HĐBH, họ giao kết HĐBH và không có khả năng đàm phán, hay điều
chỉnh nội dung nào của hợp đồng theo mẫu do phía DNBH cung cấp. Việc nhắc nhở
của DNBH và gia hạn đóng phí của DNBH nhằm đảm bảo sự công bằng cho các bên
trong quan hệ bảo hiểm, giúp bên mua bảo hiểm nhận thức rõ ràng và minh thị
nghĩa vụ quan trọng trong việc đóng phí bảo hiểm, cũng như xác định rõ về thời
điểm có khả năng chấm dứt HĐBH, đồng thời quy định này cũng giúp thể hiện rõ
ràng các ý chí của DNBH trong việc thực hiện HĐBH.
Nên
chăng, pháp luật KDBH Việt Nam xem xét khả năng bổ sung quy định nghĩa vụ thông báo của DNBH cho bên mua bảo
hiểm về việc đến hạn đóng phí, gia hạn thời gian đóng phí cho các kỳ đóng phí
tiếp theo của bên mua bảo hiểm, và việc thông báo khi đơn phương chấm dứt HĐBH
do bên mua vi phạm nghĩa vụ đóng phí.
Những quy định này sẽ giúp giảm thiểu các tranh chấp liên quan đến việc
đóng phí trễ hạn, và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên yếu thế là bên mua bảo
hiểm, tránh sự trục lợi của DNBH khi có SKBH xảy ra.
Theo quy định của Bộ
luật Dân sự 2015, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.[21]
Hợp đồng chấm dứt hiệu lực theo thỏa thuận của các bên hoặc trong trường hợp bị
hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc các trường hợp khác.[22]
Vì vậy, việc hủy bỏ, chấm dứt, khôi phục hiệu lực hợp đồng (nếu có) cần căn cứ
theo thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và DNBH tại HĐBH và quy định pháp luật có
liên quan.
Cụ thể, theo quy định
của Luật KDBH, khi bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng
phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận trong HĐBH thì HĐBH sẽ tự động chấm dứt,
trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.[23]
Như vậy, nếu bên mua bảo hiểm và DNBH có thỏa thuận về việc được khôi phục hiệu
lực HĐBH trong trường hợp bên mua bảo hiểm đóng phí trễ hạn thì HĐBH sẽ không
đương nhiên bị chấm dứt.
Tuy nhiên, ngoài quy
định về khôi phục hiệu lực HĐBH cho loại hình bảo hiểm nhân thọ,[24]
Luật KDBH không có quy định điều chỉnh về việc khôi phục hiệu lực HĐBH phi nhân
thọ. Do đó, chúng tôi đề xuất xem xét bổ sung khả năng khôi phục hiệu lực HĐBH phi
nhân thọ sau khi bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm trễ hạn. Theo đó, để khôi
phục lại hiệu lực HĐBH khi bên mua bảo hiểm đóng phí trễ hạn cần đáp ứng đủ 03
điều kiện sau đây:
Thứ nhất,
HĐBH chưa bị chấm dứt hiệu lực. Các bên trong HĐBH cần xác định HĐBH không
thuộc các trường hợp chấm dứt hiệu lực theo quy định tại Điều 422 Bộ luật Dân
sự 2015,[25]
và đã có thỏa thuận về việc HĐBH sẽ không đương nhiên bị chấm dứt trong trường
hợp bên mua bảo hiểm đóng phí trễ hạn.[26]
Khi đó, có thể quy định chế tài tương ứng thay thế là DNBH có quyền đơn phương đình
chỉ thực hiện hợp đồng trong một thời gian hợp lý, kể từ ngày bên mua bảo hiểm
vi phạm nghĩa vụ đóng phí.
Thứ hai,
việc thỏa thuận khôi phục hiệu lực HĐBH không được vượt quá một thời hạn nhất
định. Theo quy định về khôi phục hiệu lực HĐBH nhân thọ thì thời hạn này sẽ là
02 năm, kể từ ngày bị đình chỉ. Đối với bảo hiểm phi nhân thọ, các bên có thể
thỏa thuận một thời hạn khác để phù hợp hơn với tính chất, đặc trưng của loại
hợp đồng phi nhân thọ đang giao kết.
Thứ ba,
bên mua bảo hiểm phải đóng đủ số phí bảo hiểm còn thiếu. Sở dĩ bên mua bảo hiểm
cần đóng đủ phí bảo hiểm để hoàn thành hết nghĩa vụ của mình trước khi HĐBH
được khôi phục lại hiệu lực.
Tài
liệu tham khảo
*
Văn bản quy phạm pháp luật:
[1].
Bộ luật dân sự năm 2015 số 91/2015/QH13 được ban hành ngày 24 tháng 11 năm
2015;
[2].
Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 số 24/2000/QH10 được ban hành ngày 09 tháng 12
năm 2000;
[3].
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12
ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2010;
[4].
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 42/2019/QH14
ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2019;
*
Tài liệu tiếng Việt:
[5].
Án lệ số 37/2020/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua
ngày 05/02/2020 và được công bố theo Quyết định 50/QĐ-CA ngày
25/02/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
[6]. Nguyễn Ngọc Điện (2012), Nhận dạng
lợi ích gắn liền với nghĩa vụ trong quan hệ kết ước – Kinh nghiệm của Anh và
Pháp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 210-211, tháng 1-2/2012;
*
Tài liệu tiếng Anh:
[7]. Luật Hợp đồng bảo hiểm Châu Âu
2015 (Principles of European Insurance Contract Law - PEICL 2015).
[1] Án lệ số 37/2020/AL được Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 05/02/2020 và được công bố
theo Quyết định 50/QĐ-CA ngày 25/02/2020 của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao.
[2]
Khoản 11, Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa đổi bổ sung 2010, 2019.
[3] Điều 15 Luật
Kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa đổi bổ sung 2010, 2019.
[4] Khoản 2, Khoản 3 Điều
23 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa đổi bổ sung 2010, 2019. Tham khảo them
các quy định hướng dẫn trước đây của Bộ Tài Chính, Khoản 2 Điều 2 Thông tư
86/2009 ngày 28/4/2009 và Điều 18 của Thông tư 125/2012/TT-BTC ngày 30/7/2012
của Bộ Tài chính: “Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo
hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo
hiểm, hợp đồng bảo hiểm sẽ chấm dứt hiệu lực bảo hiểm vào ngày kế tiếp ngày bên
mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm”.
[5] Ví dụ: Cụ thể, ngày 2/5/2011, Công
ty bảo hiểm B đã ký kết hợp đồng bảo hiểm với bên mua bảo hiểm về việc Công ty
bảo hiểm B nhận bảo hiểm rủi ro trong quá trình xây dựng, lắp đặt và trách nhiệm
bên thứ ba cho các hạng mục liên quan trong quá trình thi công dự án thủy điện.
Trong hợp đồng bảo hiểm, các bên thỏa thuận thanh toán phí thành bốn kỳ. Khách
hàng đã thanh toán được khoản phí kỳ đầu tiên và kỳ thứ hai đúng thời hạn và một
phần của kỳ phí thứ ba. Đến ngày hết hạn đóng phí kỳ ba, khách hàng vẫn không
thanh toán đầy đủ phí bảo hiểm của kỳ này cho công ty bảo hiểm.Căn cứ quy định
tại khoản 3, Điều 24, Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định bên mua bảo hiểm vẫn phải
đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm, Tòa án đã buộc
bên mua bảo hiểm phải thanh toán cho công ty bảo hiểm số tiền phí bảo hiểm còn
nợ đến ngày hết hạn thanh toán phí. Xem thông tin vụ việc tại:
<http://tapchitaichinh.vn/bao-hiem/gian-nan-kien-doi-phi-bao-hiem-313958.html>, truy cập ngày 5/8/2020.
[6] Xem nội dung bản án tại: <https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/an-le/21707/an-le-so-23-2018-al-ve-hieu-luc-cua-hop-dong-bao-hiem-nhan-tho-khi-ben-mua-bao-hiem-khong-dong-phi-bao-hiem-do-loi-cua-doanh-nghiep-bao-hiem>,
truy cập ngày 5/8/2020.
[7] Xem nội dung bản án tại:<https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta10822t1cvn/chi-tiet-ban-an>,
truy cập ngày 5/8/2020.
[8] Xem thông tin vụ việc tại:<http://tapchitaichinh.vn/bao-hiem/gian-nan-kien-doi-phi-bao-hiem-313958.html>,
truy cập ngày 5/8/2020.
[9] Xem thông tin vụ việc tại: https://webbaohiem.net/bao-minh-dinh-kien-quyt-70-ty-dong-bao-hiem.html, https://ndh.vn/doanh-nghiep/bao-minh-chiu-boi-thuong-cho-tau-thuy-dung-quat-1031996.html, truy cập ngày 5/8/2020.
[10] Xem nội dung bản án tại: <http://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta207694t1cvn/chi-tiet-ban-an>, truy cập ngày 5/8/2020.
[11] Xem nội dung quyết định tại:<https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/quyet-dinh-giam-doc-tham-142008kdtmgdt-ngay-28112008-ve-vu-an-tranh-chap-hop-dong-bao-hiem-tai-194>, truy cập ngày 5/8/2020.
[12] DNBH
không được khởi kiện đòi đóng phí bảo hiểm trong HĐBH con người: “Trong bảo
hiểm con người, nếu bên mua bảo hiểm không đóng hoặc đóng không đủ phí bảo hiểm
thì doanh nghiệp bảo hiểm không được khởi kiện đòi bên mua bảo hiểm đóng phí
bảo hiểm.” - Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa đổi bổ sung 2010,
2019. Ngoài ra,
đối với HĐBH con người, các bên vẫn có thể khôi phục hiệu lực HĐBH nếu việc
khôi phục diễn ra trong thời hạn 02 năm kể từ ngày HĐBH bị đơn phương đình chỉ
thực hiện bởi DNBH và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm còn thiếu - Điều
39 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa đổi bổ sung 2010, 2019.
[13] Xem vụ án
tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tại bản án số 31/2019/DS-PT của TAND tỉnh Bắc Giang
tuyên ngày 05/04/2019, <https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-312019dspt-ngay-05042019-ve-tranh-chap-hop-dong-bao-hiem-86778>, truy cập ngày 5/8/2020.
[14]
Điều 15 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa đổi bổ sung 2010, 2019
[15]
Xem thêm nhận định của Tòa án trong bản
án bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, số: 176/2014/KDTM-PT,
tuyên ngày 10/03/2014, liên quan đến lập luận của Nguyên đơn “Việc xuất hóa
đơn sau khi thời hạn nộp phí đã hết được coi là hai bên đã có thỏa thuận kéo
dài thời gian nộp”.
[16] Nguyễn Ngọc
Điện (2012), Nhận dạng lợi ích gắn liền với nghĩa vụ trong quan hệ kết ước –
Kinh nghiệm của Anh và Pháp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 210-211, tháng
1-2/2012.
[17] Tham khảo thêm về Estoppel
in English law, <en.wikipedia.org/wiki/Estoppel_in_English_law>,
truy cập ngày 27/7/2020.
[18] Tham khảo Điểm a Khoản 1 Điều 7 Thông tư
329/2016/TT-BTC hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 119/2015/NĐ-CP
ngày 13/11/2015 của Chính phủ quy định bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư
xây dựng: “Khi bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo
hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thanh toán phí bảo hiểm thỏa
thuận tại HĐBH, nếu DNBH không có thỏa thuận cho bên mua bảo hiểm nợ phí bảo
hiểm theo quy định pháp luật khi đó HĐBH sẽ tự chấm dứt kể từ khi hết thời hạn
thanh toán phí bảo hiểm.”
[19] (1) Khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong
hợp đồng; (2) Do các bên thỏa thuận về điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng;
(3) Do pháp luật quy định về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng
[20] Principles
of European Insurance Contract Law (2015), <www.ius.uzh.ch/dam/jcr:0e4dca21-bb3e-4fb8-a189-e3a5e2ccb0dd/peicl-en.pdf>,
truy cập ngày 28/7/2020
[21] Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015
[22] Khoản 2, Khoản 4 Điều 422 Bộ luật Dân sự 2015
[23] Khoản 2 Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa
đổi bổ sung 2010, 2019
[24] Khoản 4 Điều 12, Khoản 4 Điều 35 Luật Kinh doanh bảo
hiểm 2000, sửa đổi bổ sung 2010, 2019
[25] Khoản 4 Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa
đổi bổ sung 2010, 2019
[26] Khoản 2 Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa
đổi bổ sung 2010, 2019
Nhận xét
Đăng nhận xét